Pham Duy 2010
Bạn bè, kẻ mất người còn (phần 1)Năm 2000, khi tôi trở về quê hương, tôi chỉ còn một người thân thích duy nhất của tôi ở Hà Nội là cháu Thành, con trai của bà Trinh, người chị của tôi đã qua đời trước đây 7, 8 năm. Nhà của hai vợ chồng cháu không đủ rộng để đãi bữa tiệc mừng ngày trở về của tôi và 5 người con. Tôi và cháu Thành đành gặp nhau tại hotel vậy…







Phạm Văn Đôn

 

Vợ tôi, Thái Hằng, có người anh họ “con chú con bác” là họa sĩ Phạm Văn Đôn, vốn lại là bạn tôi trong thời kháng chiến. Anh Đôn đã trù định từ trước một bữa cơm đón tiếp tôi, có cả bà Song Kim tức bà Thế Lữ (cô ruột của vợ tôi), nhạc sĩ Hoàng Dương (anh họ của Thái Hằng) và có thêm nhiều bạn khác như nhạc sĩ Tô Vũ, họa sĩ Quang Phòng, bà Văn Cao, ông Hoàng Ngọc Hiến… 

 

Ôi biết bao nhiêu câu chuyện trao đổi giữa chúng tôi với tay bắt mặt mừng từ xẩm tối tới đêm khuya. Các con tôi cũng rất vui vì chúng ở lâu bên Mỹ, ít khi có dịp được ấm lòng vì tình nghĩa họ hàng như đêm nay. 

Họa sĩ Phạm Văn Đôn là một người bạn mà tôi quen từ ngày có cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, khi Hội Văn Nghệ Cứu Quốc vừa được thành lập và anh là một trong những người đứng ra triệu tập các văn nghệ sĩ ở Hà Nội -- trong đó có tôi -- tới nhà anh trong buổi họp mặt đầu tiên. 

Lúc đó, anh là họa sĩ kiêm kịch sĩ trong một đoàn kịch do anh thành lập lấy tên là Hoa Lan. Anh có tham vọng dựng vở Lôi Vũ của Tào Ngu, một vở kịch nổi tiếng của Trung Hoa. Một nhà đạo diễn Trung Cộng được gửi tới để giúp cho đoàn Hoa Lan dựng vở kịch này, với bản dịch của Đặng Thai Mai. Mới chỉ trình bày được có một buổi kịch kéo dài tới bốn, năm tiếng đồng hồ tại nhà Hát Lớn Hà Nội vào thượng tuần tháng 12 năm 46 thì xẩy ra cuộc kháng chiến, anh vác cả đạo diễn lẫn diễn viên chạy ra vùng quê và đoàn kịch được Sở Thanh Niên do Đào Duy Kỳ chỉ huy thu dụng ngay.

Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng ra đời trong đó có thêm những tiết mục ca nhạc với Phạm Văn Chừng (anh ruột Phạm Văn Đôn), tác giả bài Con Chim Lạc Bạn… Có Thương Huyền và Mai Khanh, những ca sĩ bắt đầu nổi tiếng và có Phạm Đình Viêm (tức là Hoài Trung sau này) lúc bấy giờ mới chỉ là mầm non nghệ sĩ nhưng có biệt tài vừa đóng kịch vừa hát được đủ các loại ca, từ những bản nhạc hùng cho tới những bài hát khôi hài. Tôi gia nhập đoàn Giải Phóng càng làm cho đoàn thành công trong việc giải trí cho quân đội và dân chúng.


Phạm Duy và Phạm Văn Đôn trong kháng chiến

Trong nhóm kịch của đoàn, có nữ diễn viên Trúc Quỳnh với tài đóng bi kịch rất xuất sắc, có Ngô Đặng Chinh và hàm răng ngựa lúc nào cũng cười toe toét. Trong nhóm nhạc đã có vợ chồng Văn Chung, đôi uyên ương này cũng làm công việc đóng kịch trong đoàn.

Ngoài phần diễn kịch và hát ca ra, còn có cả việc triển lãm tranh nữa. Phạm Văn Đôn cùng với hoa sĩ Quang Phòng (bạn học cùng lớp với tôi ở Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội), còn treo tranh tại những đình chùa và trường học trong các làng mạc. Tôi còn lưu lại được một bức tranh do anh Đôn vẽ khi Đoàn Giải Phóng đi công tác ở Hà Tĩnh.


 Làng Cảnh Dương do Phạm Văn Đôn vẽ

Tôi thường có lúc ở trong đoàn Văn Nghệ của Phạm Văn Đôn, có lúc rời khỏi đoàn để qua đầu quân vào đội văn công của Hoàng Cầm… rồi lại tái gia nhập đoàn khi anh Đôn vào Khu Tư làm công tác văn nghệ với tướng Nguyễn Sơn. Có thể nói anh Đôn là người đã luôn luôn khuyến khích tôi lấy nhân viên trong đoàn là cô em họ Thái Hằng khi tôi muốn lấy vợ. Chúng tôi đã từng là bạn đồng nghiệp, bạn đồng chí, nay lại thêm là bạn thông gia. 

1950, vì hoàn cảnh riêng, tôi không còn ở vùng quê miền Thanh Hóa nữa, trở về Hà Nội rồi cùng gia đình nhà vợ di cư vào Saigon để mưu sinh. 

Xa cách nhau trong nửa thế kỷ, ngày tôi trở về, tôi sung sướng được gặp lại Phạm Văn Đôn. Nhưng chúng tôi chưa đủ thời giờ để ôn lại chuyện cũ thì anh Đôn đã qua đời một hay hai năm sau khi chúng tôi tái hợp với nhau. 

Lúc trước, tình bạn giữa chúng tôi trong những ngày quen biết nhau rồi sống chung với nhau trong 5 năm trời, chỉ hoàn toàn là sự giao lưu về văn nghệ. Không có những giao du, giao tiếp bình thường như ăn chơi chè chén, thể dục thể thao, tâm sự vụn vặt… của những bạn trẻ trong thời bình. Nói tóm lại, đó là một tình bạn rất trong sạch và cao qúy. 

Nhờ anh Phạm Văn Đôn tiếp thu và bảo trợ tôi trong bước đầu làm nghề ca hát cho nên tôi có ngay một địa bàn rất tốt để hành động. Không có một đoàn văn nghệ lưu động để thi thố tài năng, không có một tập thể nghệ sĩ để học hỏi lẫn nhau, không có một lý tưởng chung để nuôi nấng tình yêu nước và để quên hết những vất vả và thiếu thốn của cuộc sống hằng ngày thì tôi không thể nào trưởng thành một cách nhanh chóng như vậy ! 

Lê Hồng Giang


Hai anh em, PD và Lê Hồng Giang, sau 60 năm xa cách

Về tới Hà Nội vào năm 2000, sau khi đã chung vui với người ruột thịt của Thái Hằng, có một người mà tôi phải gặp ngay là Lê Hồng Giang. 

Nhớ lại ngày tôi mới 18, 19 tuổi, theo mẹ và anh Nhượng về sinh sống tại Hưng Yên, tôi được bà Tuần Phủ ở tỉnh này là bà Lê Đình Trân nhận làm con nuôi. Tôi vác va ly tới ăn ở trong Dinh Tuần Phủ và trở thành anh em với những người con của ông bà Tuần Phủ là Lê Hồng Giang, Lê Duy Kỳ...

Khi cụ Lê Đình Trân được thăng quan tiến chức với chức vụ Tổng Đốc và thuyên chuyển tới cai quản tỉnh Kiến An thì tôi cũng đi theo gia đình bố mẹ nuôi luôn. Sau đó còn được cha mẹ nuôi phái đi trông nom 200 mẫu ruộng tại một cái Ấp (tên là Bình Chương) trong vùng Yên Thế, Bắc Giang... Thế rồi bị quyến rũ bởi đời sống giang hồ trong một gánh hát rong, tôi giã từ tất cả để trở thành... Phạm Duy.

Những ngày chung sống với Lê Hồng Giang tại hai tỉnh lỵ nhỏ bé Hưng Yên, Kiến An trong thuở thanh bình đó, chúng tôi vui thú với những trò chơi như ca hát (tân nhạc Việt Nam vừa ra đời), đánh cờ tướng, chạy thi, nhẩy cao, đá bóng, tắm sông... Ngoài ra, tôi còn có thêm một cái thú là cùng với Lê Hồng Giang, Lê Duy Kỳ leo lên xe đạp đi tắm biển ở Đồ Sơn. Có khi còn đi xa hơn nữa, vào tận bãi biển Sầm Sơn trong Thanh Hoá.

Lê Hồng Giang lấy vợ là con gái của cụ chủ tiệm vàng Đông Hưng ở Hàng Bạc (cũng là thân sinh của thi sĩ Phạm Huy Thông). Khi bố mẹ vợ và cả vợ của Giang qua đời, vì con cái của cụ Đông Hưng không còn ai nữa nên ngôi nhà đã trở thành sở hữu của Lê Hồng Giang. Tôi đã tới chơi với Giang tại căn nhà rất cổ này, vì chủ nhà khi xưa là triệu phú, đồ đạc trong nhà như hoành phi, câu đối, bàn ghế, giường tủ... là những thứ khi xưa rất đắt tiền, nhất là cái bàn thờ bằng gỗ lim với những chạm trổ rất công phu. Tất cả giống như những đồ cổ (antique) rất quý giá mà tôi đã thấy ở Hội An. Đã có lần, một hãng phim Âu Mỹ tới quay phim tại căn nhà ở phố Hàng Bạc này (hình như quay một cảnh trong cuốn phim Indochine thì phải).


Hai ông già, từ căn nhà ở phố Hàng Bạc, bước ra phố.  

Nguyễn Thúc Công

Khi trở về Hà Nội sau 60 năm xa cách, tôi được một người cháu mời tới ở trên một căn gác tại đường Tuệ Tĩnh, đường này nằm ngay trong khu Phố Huế. Sáng sớm, bố con tôi thường tản bộ đi ăn sáng tại một con phố (xưa kia là phố Chanceaulme) là nơi có tới vài chục quán cà phê vỉa hè.  

Ngồi đó nhìn quanh thì thấy một bóng dáng quen quen : Trời ơi ! Đó là Nguyễn Thúc Công, người bạn họa sĩ của những ngày tôi đi hát rong ở Saigon ! 

Lúc còn trẻ, tôi vốn là người không ở một nơi nhất định nào cả, sống lang thang ở khá nhiều tỉnh trên đất nước và không chỉ có vài ba bạn bè trong suốt đời mà đi đâu cũng làm quen với người cùng lứa, cùng sở thích, cùng số mạng…  

Khi tôi đi theo gánh hát Đức Huy vào tới Saigon thì tôi quen biết khá nhiều thanh niên cũng có số giang hồ như tôi, mới vào Nam hay đã cắm đô ở Saigon từ lâu, như thi sĩ Nguyễn Bính, nhiếp ảnh gia Lỗ Vinh, thợ cắt hình Văn Thịnh, họa sĩ sơn mài Nguyễn Thúc Công, giáo sĩ hoàn tục Phạm Xuân Thái v.v… Hai cậu Công và Thái này còn mời tôi về ở chung một nhà, chia nhau từng miếng cơm manh áo.  

Nguyễn Thúc Công còn theo tôi ra Baria Vũng Tầu để ''đánh Tây'' khi Quân Viễn Chinh Pháp quay lại Việt Nam với ý định tái chiếm thuộc địa cũ. Dưới sự chỉ huy của một tổ chức gọi là Lực Lượng Thân Binh do Phạm Đăng Liêm phụ trách, chúng tôi xung phong vào tổ hậu cần, đồng thời cũng là tổ tình báo nữa.


Cựu kháng chiến quân và Phạm Đăng Liêm 

Tôi và Công có vài kỷ niệm không bao giờ quên được ! Có những lúc đi chở gạo từ chợ La Gy lên chiến khu, tôi nằm cạnh hoạ sĩ Công trên chiếc xe trâu, lọc cọc đi từ đồng bằng lên núi Mây Tào, cảnh đêm trăng trong khu rừng Đất Đỏ giống như cảnh quái dị trên một hành tinh nào đó… Có một lần chúng tôi đang đi thám thính trên đường nhựa gần thành phố Vũng Tầu thì gặp một đoàn chiến xa của quân đội Pháp đang hành quân, hai đứa vội chui xuống gầm một chiếc cầu, may mà quân địch không phát giác ra hai anh kháng chiến quân này. 

Kỷ niệm còn là một cái hộp gỗ sơn mài mầu đen mà Công tặng tôi để chứa đựng ảnh. 

Sau đó tôi trở ra miền Bắc để sẽ đi kháng chiến nữa trong vòng 6, 7 năm, nhiều khi tôi nhớ tới anh bạn cũ, nhưng tôi không có cách nào gửi thư cho bạn được. Rồi theo với thời gian, cái hộp gỗ sơn mài cùng với ảnh cũ đã bị thất lạc lúc nào tôi không biết, hình ảnh anh bạn mờ dần trong trí nhớ… Và nếu thản hoặc có lúc thoáng nhớ tới Công thì tôi nghĩ rằng có thể anh ta đã chết từ lâu.  

Bây giờ, trong một buổi sáng tinh mơ, tôi bỗng thấy anh ta còn sống, ngồi lù lù trên thềm nhà anh, cạnh quán cà phê. Mừng mừng tủi tủi, nhắc lại chuyện xưa, hỏi thăm tình huống... tôi thấy Nguyễn Thúc Công vẫn là con người giản dị, hiền lành, kín đáo trong khi tôi suốt đời là kẻ ''giang hồ mãi võ'', đúng ra là ''bán mấy cung đàn và những đường tơ”.  

Phạm Viết

 

Tôi có một người, vừa là bạn đầu tiên, vừa là em kết nghĩa, chơi với nhau từ thuở chúng tôi mới lên 9, lên 10 cho tới ngày chúng tôi 16, 17 tuổi. Chúng tôi phải xa nhau ít lâu nhưng rồi lại gặp nhau trong kháng chiến cũng như sau khi nuớc Việt Nam sắp sửa bị chia đôi. Kể như hai đứa tôi là bạn thân với nhau trong một thời gian khá lâu vậy.  

Nưuời đó là Phạm Viết, nhà ở phố Hàng Tre, cách nhà tôi ở phố Hàng Dầu khoảng một chục căn nhà, trước tiên là bạn học với tôi tại lớp vỡ lòng, sau nhận tôi là anh vì tôi lớn tuổi hơn và cũng cùng họ Phạm. 


Phạm Viết và vợ là Ngọc Lan, nửa thế kỷ trước 

Tôi còn nhớ, mỗi buổi sáng đi học, hai anh em gặp nhau, chia cho nhau từng miếng sôi hay miếng bánh mì chấm dấm. Vào lớp, chúng tôi ngồi cạnh nhau, cùng đọc chung những sách vẽ Nhi Đồng. Ra sân chơi vì tôi khoẻ hơn Viết nên đánh nhau hộ Viết. Những ngày nghỉ, Viết là người ưa tĩnh nên không tham gia những cuộc chơi phải dùng nhiều sức, như “nhẩy cừu” (1), đá bóng hay tắm sông. Cùng lắm là ra bờ hồ Hoàn Kiếm với tôi để đào đất tìm dế, bỏ hộp đem về cho chúng chọi nhau. Vì thấy Viết hiền lành, e lệ, tôi thường gọi đùa Viết là “con gái”. 

Tôi tới chơi nhà Viết, gặp các anh chị của Viết. Cha của Viết là một nhà giáo : Phạm Học (hay Ngọc?) đặt tên cho các con là Bút, Sách, Viết… Bố tôi cũng đặt cho các con những tên mang tính chất khiêm nhường, cẩn thận : Khiêm, Nhượng, Cẩn… Mới hay thời chúng tôi mới lớn, trong gia đình thì có cha mẹ ban cho những cái tên có ý nghĩa tốt đẹp để mà theo, tới trường thì được thầy dạy cho biết những gì gọi là cao nhã, lễ nghĩa, nhân hậu trong con người Việt Nam. Chúng tôi được hiểu biết những cái gọi là tình huynh đệ, tính đùm bọc, sự trong sạch, niềm tương trợ, lòng cao cả, sự cương nghị, niềm đại lượng, tính khoan hồng... Có thể nói tình bạn giữa tôi và Viết đã âm thầm và trong sáng từ lúc còn thơ cho tới khi cuộc đời làm chúng tôi phài xa nhau. 

Khi lớn lên thì chúng tôi không còn học chung một trường nữa, vì nhà tôi dọn lên Phố Lò Đúc, tôi theo học Trung học tại trường Thăng Long còn Viết thì học ở trường Văn Lang. Rồi từ năm 1944, tôi bỏ nhà đi theo gánh hát, còn Phạm Viết thì bỏ học đi theo Cách Mạng.  

Khi xẩy ra cuộc kháng chiến chống Pháp, Viết là một cán bộ quân sự của Việt Minh, hoạt động ở nội thành, trong một cuộc chạm súng với lính Tây, Viết bị thương ở chân và sau đó đi đứng không được bình thường. 

Trong kháng chiến, tôi hoạt động ở Việt Bắc, ở vùng trung du rồi vào Khu Bốn. Phạm Viết bỗng từ Hà Nội bị tạm chiếm ra vùng tự do và tới thăm tôi ở Chợ Neo, Thanh Hóa. Lúc đó Viết đang là trưởng ban chính trị của Trung Đoàn 48, có tên là Trung Đoàn Thăng Long (không phải Trung Đoàn Thủ Đô như tôi đã nhớ sai) gửi lính của mình là Trịnh Hưng, Phạm Nghệ đi học tại lớp nhạc của Tạ Phước ở Hậu Hiền, Thanh Hóa. Về sau, cả hai thanh niên này đều trở thành nhac sĩ có hạng ở miền Nam.


Trịnh Hưng, Phạm Nghệ, Phạm Viết,
Lưu Tuấn tại Thanh Hóa
 

Lúc đó là vào năm 1948, cả hai anh em tôi chưa đầy 30 tuổi và đều rất vui vì được đem tuổi thanh niên của mình ra giúp nước. Tại Chợ Neo, trong những đêm trăng sáng, cùng mọi người, hai đứa trò chuyện, hát ca, không ai muốn đi ngủ cả ! 

Thế rồi vào năm 1951, tôi từ Thanh Hóa trở về thành, khi đó quân đội Pháp còn có mặt tại Hà Nội. Truớc khi tôi vào Nam sinh sống, Phạm Viết vẫn đang là cán bộ quân sự nội thành, bí mật tới thăm tôi tại số 16 Đường Carreau (nay là Lý Thường Kiệt) Hà Nội. Hai anh em nhìn nhau khóc… Từ đó chúng tôi vĩnh viễn xa nhau.  

Vào năm 1972, ở Saigon, tôi được tin Viết lâm bệnh nặng và qua đời. Ngày tôi về thăm Hà Nội (năm 2000) sau 60 năm xa cách, gia đình Phạm Viết là nơi tôi tới thăm đầu tiên. Để thắp nén hương trước bàn thờ người em.  

Cả gia đình Phạm Viết tiếp tôi như một người thân, vắng nhà rất lâu, nay trở về. Tôi tự an ủi là đã gặp lại người bạn đầu tiên trong đời mình, dù chỉ là gặp một di ảnh trên bàn thờ.  

Tôi mang ơn người bạn đầu đời đã cùng tôi sống những ngày ngây thơ, ngoan ngoãn và êm đềm của thời thơ ấu. Tôi đã không phài sống lẻ loi, lủi thủi một mình, lầm lỳ như một đứa bé con út và mồ côi cha là tôi. Khi soạn ra bài hát Kỷ Niệm mà nhiều người có lòng yêu vì sự trong sáng của nó, tôi nghĩ nhiều tới người em Phạm Viết.
Cho tôi lại từ đầu
Chưa đi vội về sau…

----------------------------------------

(1) Trò chơi “saute-moutons” của Pháp.

Văn Cao

 

Thất bại lớn nhất trong đời là khi tôi trở về quê nhà sau 30 năm ở nước ngoài, tôi không gặp được một người mà tôi muốn gặp nhất, người đó là Văn Cao !  

Ngày đầu tiên gia đình tôi về Hà Nội, chúng tôi tới thăm chị Văn Cao và các cháu ngay. Bây giờ tôi mới được biết tên tuổi và mặt mũi những người con của anh bạn đã quá cố. Văn Thao rất là giống bố.

 

Trong lúc ngồi uống nước và đàm đạo, tôi nhớ lại ngày Văn Cao và tôi mới gặp nhau rồi trở thành bạn đồng nghề, đồng chí, đồng đội. Tôi nhớ ngày chúng tôi xa nhau rồi cũng có lúc mơ ước có một ngày nào đó, chúng tôi có thể gặp lại nhau. Cuộc tương ngộ đầu đường rồi nửa đường gẫy gánh xẩy ra như sau :

Vào năm 1944, tôi từ Hà Nội xuống Hải Phòng để chuẩn bị đi lưu diễn với một gánh hát. Gánh đang trong thời kỳ thành lập và dành mấy tháng để tuyển đào kép, vẽ phông cảnh và tập diễn tại rạp Trần Mỹ Ngọc ở đường Tám Gian. Tôi có thì giờ làm quen với vài ba thanh niên tại đất Cảng là Đỗ Hữu Ích, Nguyễn Văn Cao, Đinh Ngọc Tiến v.v… Ngọc Tiến là dân buôn bán chỉ thích ăn chơi, còn Văn Cao và Đỗ Hữu Ích thì là dân thất nghiệp say mê âm nhạc. Thấy tôi đang là ca sĩ tập sự, Văn Cao tặng tôi mấy ca khúc trong đó có bài với lời ca của Đỗ Hữu Ích. Thế là bài hát mang tên Buồn Tàn Thu có cơ hội trở thành bài ca hay nhất trong hai năm 44-45 khi tôi hát nó, trước hết trên sân khấu Đức Huy suốt dọc đường từ Bắc vào Nam, sau nữa hát trên Đài Phát Thanh Radio Indochine ở Saigon. 

Tình bạn giữa Văn Cao và tôi khởi sự từ năm 44 đó, được tiếp nối trong năm 45 khi tôi giã từ gánh hát và trở ra Hà Nội. Lúc hai nhạc sĩ mầm non Văn Cao-Phạm Duy và người soạn ca từ Đỗ Hữu Ích ở gần nhau thì Bến Xuân, Suối Mơ, Chiến Sĩ Hải Quân ra đời. Tiếp theo là có một thời gian (1947) tôi làm ca sĩ trong một phòng trà ở Lao Kai do Văn Cao làm chủ. Đó là chưa kể trong kháng chiến chống Pháp, có lúc tôi sinh hoạt chung với Văn Cao tại Phúc Yên, Vĩnh Yên, Yên Bái. Rồi vợ chồng Văn Cao còn là láng giềng của vợ chồng Phạm Duy trong một khu rừng không tên tại Việt Bắc vào năm 1950… 

Sau 6 năm liên tục là đôi bạn thân, chúng tôi xa nhau vì mỗi người chọn một nơi khác nhau để sống. Nước Việt Nam chia thành hai miền đã khiến chúng tôi đứt hẳn mối liên lạc trên dưới 20 năm. Bị ngăn cản bởi tình thế chính trị, không ai được phép nhắc nhở tới ai thì đành phải quên nhau thôi ! Trong cuôc sống rất hỗn mang và bề bộn, ở Saigon hay ở Mỹ, tôi chỉ biết qua loa về số phận hẩm hiu của Văn Cao, nhưng tôi không muốn và cũng không được tự do gửi thư hỏi thăm anh. 

Sau khi nước Việt Nam vừa được thống nhất, khi tôi đã qua sống ở bên Mỹ thì Văn Cao đi công tác từ Hà Nội vào Saigon. Anh ghé thăm 4 người con của tôi, lúc đó còn ở Phú Nhuận. Qua các con tôi, anh gửi cho tôi dăm ba lời nhắn nhủ. Khi được tin này, tôi coi như là vừa được tiếp nối với tình bạn xa xưa. Tuy nhiên lúc đó hãy còn sớm quá để chúng tôi liên lạc với nhau bằng thư từ. 

Rồi thời gian trôi đi, vào đầu thập niên 90, Việt Nam khởi sự thay đổi, trước hết với một đường lối chính trị gọi là cởi mở. Thế là Văn Cao và tôi đều biết rằng chúng tôi đã có thể giao lưu được rồi ! Chúng tôi khởi sự gửi thư cho nhau. Trước còn là thư xã giao, dần dần là thư tâm tình, tâm sự …  

Trong một lá thư, Văn Cao nhắc tới những tác phẩm của tôi mà anh đã nghe trong kháng chiến và khen Duy Cường phối khí rất đầy đặn. Anh còn mong tôi “đừng đùa nhiều với thời thế ” và anh nói rằng : “ tôi biết tính ông mà ! ” (Tôi cũng không cần cải chính với Văn Cao : tôi giả vờ đùa nghịch với thời thế, vì “thời thế, thế thì phải thế !” )

 

Phạm Duy

Có lẽ tôi nói với ông dài dài vài lời. Ở đây mọi người nhìn sâu và người mộ nhạc mong ông được về thăm vì nhớ nhạc nhớ người. Đất nước đang đổi thay mong ông đừng đùa nhiều với thời thế. (Tôi biết tính ông mà) Chỉ chúng ta mới còn giữ được tình cảm và không ai ngăn được. Tôi đã nhiều năm đi qua họ. Không ai dìm nổi. Là cái phao trên mặt biển mà. Tác phẩm của ông tôi đã nghe trong kháng chiến nay được con ông là Phạm Duy Cường fối khí rất đầy đặn. Mùng cho ông có người con giỏi. Cường thì tôi đã gặp năm 75 tại chính căn nhà của ông với các cháu. Gửi lời thăm chị và các cháu. Chúc gia đình và nhớ chị những ngày trong dĩ vãng sức khỏe còn tồn tại.

8 6 92

Văn Cao

Chúng tôi còn giao lưu với nhau qua video để nhìn thấy nhau và nghe tiếng nói của nhau. Lợi dụng tiện nghi của thời đại “audio-visual”,  một phóng viên đài truyền hình ở Mỹ về Việt Nam phỏng vấn Văn Cao về tôi, rồi tôi ngồi trước máy thu hình ở Mỹ, nói chuyện với Văn Cao và gửi cuốn video về Việt Nam cho anh.

Rồi tới năm 1994, khi tôi chưa tiện về Việt Nam, tôi nhờ vợ tôi và con tôi thay mặt tôi về thăm gia đình Văn Cao. Lúc đó tôi đã dự trù sẽ hồi hương vào năm 2000. Nhưng tháng 7 năm 1995, Văn Cao qua đời sau một thời gian mắc bệnh ung thư phổi. 

Sau khi ôn lại quá khứ, tôi xin phép chị Văn Cao cho gia đình chúng tôi đi thăm mộ Văn Cao. 

Đi Thăm Mộ Văn Cao 

Mộ Văn Cao chôn tại nghĩa địa Mai Dịch là nơi an nghỉ của những nguời cao cấp trong chế độ. Với một bó nhang và một tấm lòng đầy sót sa thương nhớ, cùng với một chai rượu trắng tôi chúc anh vẫn còn được say sưa khi đã về rong chơi ở chốn suối vàng.  

 


''Mời Văn Cao uống thêm một chai rượu này...''

Trên kia, tôi đã nói về chuyện tôi gặp Văn Cao và Đỗ Hữu Ích là người soạn lời ca, hay chí ít cũng là người đóng góp ý kiến cho tôi và Văn Cao khi chúng tôi viết nhạc. Chẳng hạn khi tôi soạn bài Xuất Quân thì một hai câu hát trong đó là do Đỗ Hữu Ích mớm lời cho tôi. Bài Chiến Sĩ Hải Quân soạn trong thời đó, khi in ra có chua rõ bài này là sáng tác của cả ba người.

Trở về cố hương, tôi không gặp được Văn Cao, hay cũng có thể nói tôi đã gặp được anh khi tới nghĩa địa Mai Dịch rồi ! Nối lại được một cái dây đã đứt xong, tôi muốn tìm cho ra địa chỉ của Đỗ Hữu Ích, một người nằm trong cái vòng bạn bè giữa Văn Cao và tôi. Mầy mò mãi, rồi tôi cũng tìm ra nơi Ích ở ẩn. Tôi bỏ một ngày trời, lặn lội về một vùng quê hẻo lánh không tên, để ăn một bữa cơm trưa và truyện trò với Đỗ Hữu Ích.

 

Chúng tôi không kể chuyện buồn cho nhau nghe, chỉ nhắc lại (nói cho đúng hơn là sống lại) những mẩu chuyện vui, ví dụ chuyện ngày đó tôi mê cô em gái của Ích và ăn cắp một cái áo của Nàng, chuyện tôi và gia đình Ích tản cư ra khỏi thành phố khi Hải Phòng bị máy bay Mỹ thả bom vào nơi đóng quân của lính Nhật, chuyện chúng tôi tụ họp ca hát những bài ca Nhật Bản như Shina No Yoru với lời ca tiếng Việt… 

Cuối cùng, trước khi từ biệt nhau, Ích mở một cái rương đặt dưới giường ngủ, lấy ra cho tôi coi một kỷ vật quý giá : một nhạc tập do Ích là người ấn hành năm 1945 có ghi tên nhà xuất bản : Đỗ-Văn, nghĩa là cơ sở văn nghệ chung của Đỗ Hữu Ích và Văn Cao.

 

 Hoàng Cầm 

Sau 50 năm xa cách nhau vì hoàn cảnh ly loạn, bạn bè kẻ mất người còn, nếu tôi không gặp lại Văn Cao, Văn Chung, Lê Yên và nhiều bạn khác đã qua đời thì nay tôi được hạnh phúc ôm hôn những bạn còn sống sót, những bạn kháng chiến, bạn nhà văn, bạn họa sĩ, bạn ca nhạc sĩ và bạn sân khấu. Sở dĩ tôi có nhiều bạn cũ như thế là vì tôi đã theo học nhiều trường, làm nhiều nghề, đi nhiều nơi...

 

 

Tôi đến nhà Hoàng Cầm tới ba, bốn lần, lần nào nhà anh cũng rất đông bạn bè, nhất là vào ngày sinh nhật của anh, ngày 16 tháng hai năm 2000. Ngoài những bạn cũ như Mặc Hy, tôi còn gặp thêm nhiều bạn mới như các thi sĩ Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo v.v...


Mặc Hy


PD, Hoàng Cầm, Kha và Tạo

Trong ngày họp mặt để mừng sinh nhật thi sĩ Hoàng Cầm này, lẽ dĩ nhiên là có kể chuyện xưa, ngâm thơ, ca hát... Rất tự nhiên, Mặc Hy, kẻ tự nhận mình là người hát rong như tôi, vác đàn đứng hát. Hai thi sĩ Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Trọng Tạo ngâm thơ.  

Tôi và Hoàng Cầm đã nhiều phen trao đổi thư từ, ngay từ khi tôi gặp con gái Kiều Loan và mẹ tại Hoa Kỳ vào năm 1982 và được nghe cô con gái ngâm nhũng bài thơ anh soạn trong và sau những ngày gian khổ của anh :

Cả Thái Bình Dương là hạt lệ
Một người đi biệt một hành tinh
Cả dãy Trường Sơn là dấu phẩy
Ngắt dòng thơ trang sử u tình.


Bẩy sắc mây chìm đợi bão tan
Hôm nào nắng xoá vệt thời gian...
Gò cao má ửng đùa thiên mệnh
Em có về không ? Hỡi tiếng vang !


Mẹ con Kiều Loan và tôi

Sau đó, tôi có viết ra một tập tùy bút nhan đề Hoàng Cầm Trong Tôi, tuy không in ra nhưng được phổ biến qua những buổi diễn thuyết về thi ca của tôi trên thế giới. Trong tùy bút đó tôi kể lại tất cả những gì tôi biết về người bạn đồng niên và đồng chí, nhất là về những bài thơ kháng chiến, thơ về Kinh Bắc của anh. Những bài thơ này đã khiến tôi lấy lại được tin tưởng trong quãng đời lưu vong buồn tẻ và không còn nghĩa lý gì nữa. Tùy bút này được gửi về cho Hoàng Cầm. Ít lâu sau, Hoàng Cầm đáp lại mối tình đó bằng một bài viết nhan đề Đường Ta Ta Cứ Đi, in trong cuốn sách Hoàng Cầm Văn Xuôi.  Thế là bất chấp thời gian, không gian, tình bạn giữa chúng tôi chưa bao giờ bị cắt đứt, dù hoàn cảnh khó khăn của đất nước trong một thời loạn ly.

Có lần, Kiều Loan là con đẻ của Hoàng Cầm ở Việt Nam, khi qua Hoa Kỳ thì trở thành con nuôi của tôi, trở về Hà Nội thăm bố ruột. Bố nuôi cũng có mặt trong ngày Tết năm 2005 này, được ăn một bữa cơm với món cá thu kho gừng tuyệt vời.

Chỉ rất tiếc rằng ít lâu nay Hoàng Cầm bị ngã rồi không đi đứng được nữa còn tôi thì ít khi ra Bắc hơn trước nên chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gọi điện cho nhau

Tiếp theo phần 2

 

Các bài khác: